Ngũ gia bì gai (hương)

Ngũ Gia Bì gai (Hương)
Tên khác: Tam gia bì, tam diệp ngũ gia, pop tưn, poóc sinh (Tày), co nam slư (Thái).
Tên đồng nghĩa: Acanthopanax aculeatus Seem; Zanthoxylum trifoliatum L.
Họ: Nhân sâm (Araliaceae)
Mô tả:
Cây bụi nhỡ, cao 1 - 7m, mọc dựa. Cành vươn dài có gai. Lá kép chân vịt, mọc so le, gồm 3 - 5 lá chét, thường là 3, hình bầu dục hoặc thuôn, gốc tròn, đầu nhọn, dài 5 - 8cm, rộng 2 - 4cm, lá chét giữa lớn hơn, mép khía răng to, gân lá có gai, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng; cuống lá kép dài 4 - 7cm, có gai.
Cụm hoa mọc ở đầu cành, gồm 3 - 10 tán, có cuống dài 3 - 4cm; hoa nhỏ, mẫu 5, màu trắng đục, lá đài không rõ; cánh hoa hình tam giác; nhị 5, chỉ nhị mảnh; bầu hạ, 2 ô.
Quả mọng, hình cầu dẹt, mang vòi tồn tại, đường kính khoảng 2,5mm, khi chín màu đen, có 2 hạt.
Toàn cây có tinh dầu thơm.
Mùa hoa: tháng 9 - 11; mùa quả: tháng 12 - 1
Bộ phận dùng:
Vỏ rễ hoặc vỏ thân thu hái vào mùa thu đông đã được rửa sạch, phơi hay sấy khô. Vỏ rễ ngũ gia bì gai được ghi vào Dược điển Trung Quốc (bản in tiếng Anh 1997).
Các loài Acanthopanax evodiaefolius Franch. (Evodiopanax evodiaefolium Nakai), A. senticosus Harms, nam ngũ gia) và thứ Acanthopanax trifoliatus var. setosus Li cũng được sử dụng.
Thành phần hoá học:
Vỏ rễ và vỏ thân ngũ gia bì gai chứa acid 3a, 11a - dihydroxy - 23 - oxylup - 20 - en - 28 - oic, acid 24 - nor - 11a - hydroxy - 3 - oxolup - 20 - en - 28 - oic, acid 24 - nor - 3a, 11a - hydroxylup - 20 - en - 25 - oic.
Lá chứa acid 3a - 11a - dihydroxylup - 20 - en - 28 - oic và acid 3a, 11a - 23 trihydroxylup - 20 - en - 28 oic. Ngoài ra còn có nevadensin, taraxerol và taraxerol acid acetic ester.
Lá và cành còn chứa tinh dầu gồm hơn 60 thành phần, trong đó các chất chính là a - pinen, sabinen, terpinen - 4 ol, b - pinen và p. cymen.
Tác dụng dược lý:
Ngũ gia bì gai có tác dụng kích thích tinh thần. Trong thử nghiệm gây trạng thái uất trên chuột nhắt trắng theo phương pháp Porsolt, ngũ gia bì gai cũng như tam thất và đinh lăng, có tác dụng làm giảm thời gian bất động của chuột. Nước sắc và dịch chiết cồn từ vỏ cây có tác dụng làm tăng hoạt động tự nhiên của súc vật thí nghiệm, tăng khả năng bám trụ quay của chuột, rút ngắn thời gian gây ngủ của hexobarbital, tăng khả năng thiết lập phản xạ có điều kiện và tăng khả năng duy trì phản xạ có điều kiện. Ngoài ra, ngũ gia bì gai còn có khả năng tăng cường tác dụng gây co giật của strychnin và pentetrazol. Tuy ngũ gia bì gai có tác dụng gây hưng phấn tâm thần nhưng không làm thay đổi hoạt tính của men monoamin - oxydasa (MOA) ở não và gan chuột thí nghiệm.
Thuộc nhóm này, có cây Acanthopanax senticosus (Eleutherococcus senticosus) đã được các tác giả Liên Xô trước đây nghiên cứu nhiều về dược lý và đã chứng minh có tác dụng sau: Tác dụng "sinh thích nghi" (adaptogen) tốt hơn nhân sâm, tạo cho cơ thể ở trạng thái sức đề kháng được tăng cường một cách không đặc hiệu (a state of non - specifically increased resistance) với những đặc điểm sau:
a. Tăng cường sức đề kháng không đặc hiệu của cơ thể đối với các tác nhân gây độc hại như các tác nhân về vật lý (quá mạnh, nóng bức, quá tải, không trọng lượng, vận động quá mức hoặc bất động bắt buộc, phóng xạ), tác nhân hoá học (các chất độc), tác nhân sinh học (vi khuẩn, ung thư).
b. Điều tiết quá trình bệnh lý, làm cho cơ thể có xu hướng trở về trạng thái bình thường, ví dụ như bệnh đường huyết cao do ăn uống hoặc do tiêm adrenalin thì A.senticosus có tác dụng làm hạ đường huyết, nhưng ở trường hợp do insulin gây nên thì lại có tác dụng nâng cao đường huyết.
c. Độc tính thấp, với liều dùng tăng sức đề kháng của cơ thể, không làm ảnh hưởng đến các chức năng bình thường của cơ thể. Ngoài tác dụng trên, cây còn có tác dụng làm giãn mạch máu, cải thiện việc cung cấp máu cho não, hạ huyết áp. Đối với thần kinh trung ương, dạng chiết từ A.senticosus có tác dụng gây trấn tĩnh, kéo dài thời gian gây ngủ của nembutal, giảm co giật do picrotoxin gây nên. Polysaccharid chiết từ A.senticosus có tác dụng kích thích miễn dịch. Đối với hiện tượng giảm bạch cầu do bezen hoặc cyclophosphamid gây nên, A. senticosus có tác dụng phòng ngừa. Trên lâm sàng, cây được dùng điều trị ngộ độc benzen mạn tính và bệnh giảm bạch cầu có kết quả nhất định.
Tính vị, công năng:
Ngũ gia bì gia có vị đắng, cay, tính mát, vào 3 kinh can, phế, thận, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khư phong, lợi thấp, thư can, hoạt lạc.
Công dụng:
Theo kinh nghiệm dân gian, ngũ gia bì gai được coi là một bị thuốc bổ, làm mạnh gân xương, chữa thấp khớp, lưng gối mỏi đau, trẻ con chậm biết đi, đàn ông dương sự kém, đàn bà ngứa âm hộ. Ngày dùng 6 - 12g dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống.
Ở Trung Quốc, ngũ gia bì gai (thích tam giáp) còn được dùng chữa cảm mạo, sốt cao, ho đờm có máu, hoàng đản, bạch đới, sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt.
Bài thuốc có ngũ gia bì gai:
1. Chữa đau khắp mình mẩy, đau lưng, đau xương:
Ngũ gia bì thái nhỏ sao vàng 100g, rượu trắng 30° một lít, ngâm trong 10 - 15 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống một cốc con chừng 30ml vào buổi tối trước khi đi ngủ.
2. Chữa chứng kê trảo phong, tay run rẩy không cầm nắm được, miệng lập cập:
Ngũ gia bì gai 30g; ngưu tất, thạch hộc mỗi vị 24g; nhục quế (bỏ vỏ ngoài) 6g; gừng khô 3g. Sắc uống (Nam dược thần hiệu).
3. Chữa bạch đới, kinh nguyệt khó khăn:
Rễ ngũ gia bì gai 9g, hồng ngưu tất 6g. Sắc nước uống (Giang tây thảo dược thủ sách)
4. Chữa thổ huyết lao thương:
Rễ ngũ gia bì gai, ngưu tất, chu sa liên, tiểu huyết đằng, mỗi vị 9g. Ngâm rượu uống ngày 2 lần, mỗi lần 25 - 30ml (Quý Châu thảo dược - Trung Quốc)
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam

Để thuận tiện tra cứu các bài thuốc, các bạn nên tải app về và cài đặt điện thoại như 1 cuốn sổ tay nhỏ:
Nếu điện thoại chạy trên nền Android:
https://play.google.com/store/apps/details?id=com.lovehands
Nếu dòng điện thoại chạy trên nền iOS,
https://itunes.apple.com/app/id1294080348

No Comments Yet.