Category Archives: Ghi nhớ cẩn trọng

VAI TRÒ CỦA HỆ MIỄN DỊCH TRONG CƠ THỂ

TÌM HIỂU HỆ MIỄN DỊCH CỦA CƠ THỂ

Để hiểu được tầm quan trọng của Hệ miễn dịch trong điều trị bệnh, chúng ta cần phải trang bị kiến thức cơ bản về Hệ miễn dịch và vai trò của các thành phần tham gia vào hệ miễn dịch của cơ thể. Xin giới thiệu tóm tắt một số các thành phần chính tham gia vào chức năng miễn dịch. Các thành phần này làm việc với nhau trong nỗ lực để hỗ trợ và duy trì một Hệ miễn dịch hoạt động ở mức độ tối ưu.

Hệ miễn dịch là gì?

Hệ miễn dịch là một mạng lưới phức tạp bao gồm nhiều tế bào, mô, cơ quan khác nhau với những vai trò riêng và liên kết chặt chẽ với nhau để đảm bảo chức năng phòng thủ cho cơ thể. Các tế bào tham gia vào chức năng của Hệ miễn dịch là tế bào bạch cầu (máu trắng hay Leukocytes). Những tế bào này bao gồm hai loại cơ bản:
1) Đại thực bào có chức năng "nuốt " những tế bào bất thường (abnormal cells) và các sinh vật xâm nhập cơ thể;
2) Lymphocytes còn gọi là bạch cầu Lympho có chức năng phá hủy những chất lạ, sản xuất những hóa chất để hoạt động như những người đưa tin, vào cho phép Hệ miễn dịch nhớ và nhận biết những kẻ xâm nhập trước đó, nhờ vậy mà Hệ miễn dịch có thể tiêu diệt chúng.

Hệ miễn dịch hoạt động như thế nào ?

Bộ máy vận chuyển chính của Hệ miễn dịch là hệ thống bạch huyết. Hệ thống này là sự kết hợp của các cơ quan, hạch, ống dẫn có chức năng vận chuyển các dung dịch trong như nước được gọi là "bạch huyết" (máu trắng) hoặc dịch bạch huyết, chạy khắp cơ thể. Dịch bạch huyết thực hiện một số chức năng quan trọng của cơ thể như: phân phối các chất dinh dưỡng và các chất đưa tin tới các tế bào của cơ thể và nó tương tác với hệ thống tuần hoàn của máu để đem các chất cặn bã ra khỏi tế bào.
Hệ miễn dịch cũng bao gồm lá lách, amidan, tuyến ức, VA và các phần của ruột non, tất cả đều được kết hợp thành các mô bạch huyết, nơi các tế bào lympho được hình thành. Những cấu phần quan trọng khác của Hệ miễn dịch là tủy xương và màng nhầy được tìm thấy trên khắp cơ thể. Trong thực tế, các mô bạch huyết được tìm thấy ở tất cả các phần của cơ thể, ngoại trừ hệ thống thần kinh trung ương. Tim, phổi, đường ruột, gan và da cũng chứa mô bạch huyết và chúng được kết nối mật thiết với hệ miễn dịch.
Các Lympho bào (tế bào bạch huyết) của Hệ miễn dịch bắt đầu cuộc sống của chúng trong tủy xương và hoặc ở lại đó và phát triển thành các tế bào lympho B (tế bào B) hoặc chúng di chuyển đến tuyến ức, nơi chúng sẽ biến thành tế bào lympho T (tế bào T). Các tế bào Lympho T và tế bào Lympho B của Hệ miễn dịch có mối quan hệ cộng tác chặt chẽ với nhau: các tế bào Lympho B tìm ra các sinh vật xâm nhập vào cơ thể và đưa đến gặp lực lượng để tấn công chúng, còn các tế bào Lympho T củ Hệ miễn dịch thì tiêu diệt những kẻ xâm lược một khi chúng đã được nhận diện. Một thành phần quan trọng nữa của Hệ miễn dịch là các đại thực bào cũng phát sinh từ tủy xương. Đại thực bào là những tế bào bạch cầu đã biệt hóa trở thành to hơn tế bào bạch cầu bình thường. Đại thực bào có chức năng nuốt vi khuẩn và những gì "lạ" đối với cơ thể (vi rút, vi khuẩn, tế bào ung thư, protein lạ....) trong một quá trình gọi là thực bào. Các đại thực bào có được một số hỗ trợ từ các tế bào bạch cầu khác của Hệ miễn dịch, có tên là bạch cầu trung tính.
Dưới đây là tóm tắt một số các thành phần chính của Hệ miễn dịch tham gia vào chức năng miễn dịch. Rất nhiều trong số những nhân tố này làm việc với nhau trong nỗ lực để hỗ trợ và duy trì một hệ miễn dịch hoạt động ở mức độ tối ưu.
Các dạng tế bào trong hệ miễn dịch
• Kháng nguyên: kháng nguyên là những chất, vi khuẩn, virus, chất độc, các tế bào máu ngoại lai khi xâm nhập vào cơ thể sẽ kích thích sản xuất một kháng thể mà kháng thế này có thể vô hiệu hóa các kháng nguyên.
• Tế bào Lympho T (T lymphocytes- T cells): là một loại tế bào bạch cầu tham gia vào các chức năng miễn dịch khác nhau của Hệ miễn dịch. Tế bào lympho T gồm một số loại khác nhau: Tế bào lympho T giúp đỡ, Tế bào lympho T ức chế, Tế bào lympho T gây độc
Tế bào Lympho B (B cells): Tế bào Lympho B được sản xuất tại tủy xương (bone marrow) và trưởng thành thành các tế bào bạch cầu (còn gọi là tương bào-plasma cells). Tế bào Lympho B chịu trách nhiệm sản xuất các kháng thể là các chất then chốt trong cuộc chiến chống lại các nhiễm khuẩn.
o Tế bào lympho T giúp đỡ: Tế bào T giúp đỡ không trực tiếp giết tế bào ung thư hoặc các mầm bệnh, chúng tiết ra các hóa chất để giúp tế bào B và tế bào T tiêu diệt làm việc tốt hơn. Tế bào giúp đỡ lại gồm hai loại:
- Tế bào giúp đỡ T1 (Th1): tham gia vào miễn dịch qua trung gian tế bào và
- Tế bào giúp đỡ T2 (Th2): tham gia vào miễn dịch dịch thể.
o Tế bào lympho T ức chế: giúp cho hệ miễn dịch không phản ứng quá mạnh và tấn công với những phần khỏe mạnh khác của cơ thể
o Tế bào lympho T gây độc (còn gọi là tế bào T sát thủ - Killer T cells): tế bào này tiết ra các hóa chất để tiêu diệt những tế bào bất thường (abnormal cells) và tấn công các sinh vật xâm nhập vào cơ thể.
• Các tế bào hình cây (Dendritic cells-DCs): các tế bào bạch cầu xử lý các kháng nguyên (các vật chất lạ) và trình diện chúng trước các tế bào Lympho B và Lympho T. Tế bào hình que được coi như "cậu bé phân phối" của hệ thống miễn dịch: mặc dù các tế bào Lympho B và Lympho T là những chất miễn dịch trung gian, chức năng của chúng nằm dưới sự kiểm soát của tế bào hình que.
• Đại thực bào (Macrophages): Đại thực bào là những tế bào bạch cầu ăn các tế bào bất thường và các sinh vật xâm nhập vào cơ thể. Đại thực bào đóng vai trò chủ chốt trong đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào của Hệ miễn dịch.
• Tế bào sát thủ tự nhiên (Natural killer cells (NK): là một loại tế bào Lympho thực hiện công việc quan trọng của Hệ miễn dịch: tế bào NK phát hiện và phá hủy các tế bào khối u và vi khuẩn, vi rút trước khi chúng sinh sản và phát tán, qua đó bảo vệ cơ thể không bị các bệnh mãn tính và thoái hóa. Tế bào NK của Hệ miễn dịch làm việc bằng cách đeo bám lên các tế bào ung thư hoặc vi khuẩn, vi rút và tiêm một hạt nhỏ vào nạn nhân của nó để gây ra cái chết cho tế bào ung thư hoặc vi khuẩn. “Hoạt động của tế bào NK là một chỉ báo về sức mạnh của Hệ miễn dịch và cũng là để xác định tiên lượng cho các bệnh nhân ung thư và bệnh nhân AIDS. Khi tế bào NK giảm xuống tới "0", cái chết sẽ xuất hiện”.

• Tế bào sát thủ Lymphokine hoạt hóa (Lymphokine activated killer cells (LAK): là một loại tế bào bạch cầu được kích thích để phá hủy các tế bào khối u.
• Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophils): là loại tế bào bạch cầu phổ biến nhất và là loại chịu trách nhiệm nhiều nhất trong đáp ứng miễn dịch của Hệ miễn dịch. Bạch cầu trung tính thường xuyên "đi tuần" trong dòng máu đến khi chúng được gọi đến để thực hiện nhiệm vụ tại những điểm nhiễm trùng. Sau khi chúng ăn những tế bào khác, chúng sẽ chết đi.
• CD4: là những Glycoproteins tìm thấy ở bề mặt của tế bào Lympho T giúp đỡ, Đại thực bào và tế bào hình que (DCs). Những tế bào giúp đỡ này kích hoạt Hệ miễn dịch khởi động đáp ứng miễn dịch đối với những kẻ thù như tế bào ung thư, vi khuẩn và virus.
• CD8: Những Glycoproteins này thường tìm thấy trên bề mặt của các tế bào Lympho T gây độc, nhưng cũng thấy ở các tế bào sát thủ tự nhiên (NK) và tế bào hình que. Chúng tham gia vào việc phá hủy các tế bào đã bị nhiễm các vi sinh vật ngoại lai.
• Tỷ số (ratio) CD4/CD8: Các nhà lâm sàng có thể sử dụng tỷ số này để xác định Hệ miễn dịch mạnh như thế nào và để giúp dự đoán nguy cơ của các biến chứng của bệnh.
• Cytokines: là những hóa chất hoạt động như những người đưa tin giữa các tế bào để định hướng và tăng cường đáp ứng miễn dịch. Có một số loại cytokines, bao gồm:Hạch bạch huyết (Lymph nodes): có cấu trúc hình hạt tròn thường là nơi các Lympho bào lần đâu tiên tiếp xúc với vi khuẩn, virus và các kháng nguyên khác mà ở đó kích thích Lympho bào thực hiện các chức năng của chúng. Hạch bạch huyết hình thành từng đám khắp hệ thống miễn dịch và có thể trở nên to hơn do tình trạng nhiễm trùng hoặc một khối u.
o Interferon: bảo vệ tế bào từ các virus, phá hủy các khối u ung thư và kích thích các tế bào sát thủ tự nhiên (NK) và Đại thực bào để tăng cường hơn nữa chức năng của chúng.
o Interleukin-2 (IL-2): kích thích sự trưởng thành và hoạt động của các tế bào Lympho T
o Interleukin-12 (IL-12): kích thích các tế bào sát thủ tự nhiên (NK) và tăng cường miễn dịch qua trung gian tế bào của Đại thực bào
o Transforming growth factor beta (TGF-b): là một protein kiểm soát sự tăng sinh, biệt hóa tế bào và các chức năng khác của tế bào. Nó có một vai trò quan trọng trong miễn dịch và ung thư, khi mà các tế bào ung thư gia tăng việc sản suất các TGF-b của chúng.
o Nhân tố hoại tử khối u (Tumor necrosis factor-TNF): là một cytokine tham gia vào quá trình viêm và có khả năng tiêu diệt các tế bào khối u.
• Lá lách (Spleen): là cơ quan lọc máu và loại bỏ những hầu cầu già và những tế bào bất thường đồng thời là nơi cho các kháng thể và tế bào lympho trưởng thành.
• Amidan và VA (Tonsils and adenoids): là những cấu trúc bao gồm các mô tương tự như trong các hạch bạch huyết. Amidan và VA như một chiếc nhẫn bao quanh mặt sau của vòm họng và chúng được cho là để giúp cơ thể chống lại các vi sinh vật xâm nhập.
Phương thức đáp ứng miễn dịch
Hệ miễn dịch của cơ thể có hai phương thức đáp ứng miễn dịch, gồm:
• Miễn dịch dịch thể: được hiểu là phương thức miễn dịch đặc hiệu thể hiện bằng việc sản xuất các kháng thể có khả năng chống lại các vi sinh vật và tế bào lạ từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể. Các kháng thể (bản chất là các protein) do các tế bào Lympho B tạo ra. Các kháng thể sẽ trung hòa và loại bỏ vi sinh vật, tế bào lạ và các độc tố do chúng tạo ra trong máu qua đó ngăn chặn khả năng gây bệnh của chúng.
• Miễn dịch qua trung gian tế bào: là phương thức đáp ứng miễn dịch qua hiện tượng thực bào. Phương thức này tiếp cận các vi sinh vật đang sống và nhân lên bên trong các tế bào của cơ thể, do các tế bào lympho T đảm nhiệm. Loại tế bào Lympho T giúp đỡ sẽ hoạt hóa Đại thực bào để tế bào này "nuốt" và tiêu hủy các tế bào ung thư, vi sinh vật, protein lạ. Các tế bào lympho khác thì giết chết bất kỳ tế bào ung thư nào mà chúng nhận ra cũng như các tế bào có chứa các vi sinh vật lạ.

Để thuận tiện tra cứu các bài thuốc, các bạn nên tải app về và cài đặt điện thoại như 1 cuốn sổ tay nhỏ, sẽ có lúc cần dùng đến:
Nếu điện thoại chạy trên nền Android: vô Google play và gõ chữ "lovehands"
https://play.google.com/store/apps/details?id=com.lovehands
Nếu dòng điện thoại chạy trên nền iOS, vô App store và gõ chữ "lovehands"
https://itunes.apple.com/app/id1294080348
_ Tham khảo nguồn: Viện Ung thư-

Tắm trà – Những điều nên biết

Trà là loại thảo mộc có nhiều tác dụng. Ngoài chức năng làm nước uống, trà còn có tác dụng tốt với làn da nếu dùng để tắm. Thành phần chủ yếu trong lá trà là caffeine, theocin, acid tannic…, trong đó acid tannic có thể diệt khuẩn và giúp mau lành vết thương. Vì vậy, tắm trà có công dụng chăm sóc da. Những người có làn da khô, sau vài lần tắm trà, da sẽ dần trở nên sáng bóng và mịn màng.

Vì thể chất của mỗi người khác nhau nên phải chọn loại lá trà tắm phù hợp: Nữ giới thích hợp với các loại trà hoa; thanh niên và người ở độ tuổi trung niên có khả năng đề kháng mạnh nên thích hợp với trà xanh; người cao tuổi thì cơ chế sinh lý yếu, thiếu khí huyết, sẽ rất phù hợp khi tắm trà ô long hay hồng trà; trẻ nhỏ có hệ thần kinh, cơ quan tiêu hóa và da chưa hoàn chỉnh thì nên chọn trà ướp hoa pha loãng để tắm.

Trong tất cả các loại trà, trà xanh được xem là có tác dụng tốt nhất cho sức khỏe của con người. Trà xanh có nhiều sinh tố hơn mọi thứ trà. Cứ 100g trà thì có độ 500mg sinh tố C và 1,2mg sinh tố B2, gấp bốn lần lượng sinh tố trong các loại đậu nành, gấp chín lần lượng sinh tố có trong cơm gạo. Ngoài ra, trà xanh còn có sinh tố B1, A, nhưng chất caffeine lại ít hơn những loại trà khác.

Dùng trà xanh pha vào nước tắm có tác dụng phòng trị bệnh về da, ôn hòa cơ thể từ trong ra ngoài, rất thích hợp với người có chứng hư hàn. Cách pha rất đơn giản lấy 500g trà xanh, lựa lá tươi, vò nát, cho vào nồi nước đun sôi, sau đó gạn lấy nước, pha vào bồn tắm ở nhiệt độ 30 - 380C. Ngâm mình trong nước trà xanh là cách thư giãn nhanh chóng giúp cho tinh thần sảng khoái, xua tan mệt mỏi. Nước trà xanh sẽ giảm mụn nhọt, đồng thời giúp làn da trở nên mịn màng, mềm mại. Lưu ý là chỉ sử dụng nước trà pha lần đầu.

Thường xuyên tắm nước trà xanh có thể làm mềm lớp chai ở tay và chân, làm cho làn da trắng đẹp.

Ngoài ra, trà xanh giúp làm sạch chất nhờn se lỗ chân lông thì dùng một miếng bông thấm ít nước trà quét nhẹ lên da mặt. Trà xanh còn bảo vệ da khỏi tác hại của tia cực tím. Chiết xuất trà thường được dùng trong các mỹ phẩm chống nắng.

Bã trà cũng có tác dụng với làn da. Lấy một lượng bã trà sau khi được phơi khô cho vào túi vải xô rồi cột chặt miệng túi. Thả túi bã trà vào bồn tắm khi nước lạnh, sau đó đổ thêm nước sôi vào hoặc thả túi trà vào nước ở nhiệt độ 400C, để túi trà nổi trên mặt nước cho các thành phần trong trà tiết ra. Sau đó dùng nước trà để tắm sẽ thanh tẩy được vi khuẩn, mùi hôi trên cơ thể. Nên chọn loại trà có độ pH trung hòa, không quá nhiều kiềm và acid để tránh gây tác động không tốt cho da.

Tắm bằng trà là một hình thức thư giãn lý tưởng. Dùng 500g lá trà ngâm trong bồn nước để tắm thường xuyên thì làn da bóng nhẵn, vùng da thô ráp trở nên mềm mại. Có thể thêm một ít cánh hoa yêu thích như hoa hồng phấn, hoa cúc vàng… Hương thơm của trà và cánh hoa quyện với nhau sẽ giúp cho tinh thần thư thái.

Khi tắm trà, hãy cảnh giác với hai điểm sau:

- Khi vừa mới ăn no, nếu tắm trà ngay thì cơ thể chịu sự kích thích của trà, mạch máu căng lên, dễ dẫn đến thiếu máu ở khoang bụng và đại não, khiến sự tiêu hóa kém và bị chóng mặt.
Tắm trà lúc đói dễ làm cho cơ thể suy yếu, thậm chí có thể ngất xỉu.

- Khi cơ thể cảm thấy khó chịu, dù bệnh nhẹ hay nặng cũng không nên tắm trà. Lý do là khi tắm, lượng mồ hôi tiết ra nhiều hơn, dễ làm cho bệnh nặng thêm.
Tắm trà có thể loại bỏ mệt mỏi, nhưng quá mệt mỏi thì không nên vận dụng. Khi cơ thể mệt mỏi, cơ bắp co rút nhanh và mạnh, máu lưu thông nhanh nên nếu tắm trà thì dễ dẫn đến thiếu máu ở tim và đại não.

Nhiệt độ nước trà quá cao sẽ làm cho mạch máu căng quá mức, máu nhanh chóng lưu thông đến bề mặt cơ thể, dẫn đến thiếu máu ở tim và đại não, hậu quả là cơ thể xuất hiện triệu chứng chóng mặt, hoa mắt…

Do đó, hãy tắm trà đúng cách để có một làn da tươi trẻ.

Rau mầm nên ăn và không nên ăn

Chỉ nên sử dụng các loại rau mầm đã được nghiên cứu chứng minh là ăn được như rau mầm củ cải trắng, mầm lạc, đậu tương, súp lơ, rau muống...
Rau mầm có thể bị nhiễm khuẩn, nhiễm bẩn do quá trình thu hoạch không bảo quản đúng cách, còn có nguy cơ từ lượng phân bón thấm vào rau mầm.

Rau mầm chứa nhiều loại vitamin thiết yếu (vitamin B, C, E…), amino axit và chất xơ cần thiết cho cơ thể với hàm lượng cao. Nhờ giàu vitamin, rau mầm giúp cơ thể tăng sức đề kháng, giữ gìn làn da mịn màng tươi tắn, nguồn vitamin E dồi dào trong rau mầm còn giúp làm chậm quá trình lão hoá và tăng cường sinh lực, gây hưng phấn.
Hàm lượng chất xơ cao sẽ giúp người ăn dễ tiêu hoá, dễ hấp thụ, chuyển hoá các chất phức tạp. Theo nghiên cứu của một số nhà dinh dưỡng học Mỹ, rau mầm thích hợp cho các chế độ ăn kiêng và còn giúp ngăn ngừa các nguy cơ ung thư.

Có thể gây ngộ độc
Hầu hết các loại rau mầm đều phải trồng trong môi trường ấm và đây chính là cơ hội cho các loại vi khuẩn phát triển. Nếu quá trình chăm sóc rau không bảo đảm an toàn thì rau cũng sẽ bị nhiễm khuẩn.
Rau mầm còn có thể bị nhiễm khuẩn, nhiễm bẩn do quá trình thu hoạch không bảo quản đúng cách. Bên cạnh đó, còn có nguy cơ từ lượng phân bón thấm vào rau mầm khi người ta cố tình dùng nó để kéo dài ngày thu hoạch.
Ngoài ra, nguy cơ ngộ độc rau mầm còn có thể đến từ chính đặc tính sinh học của hạt giống. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, trong mầm khoai tây và mầm của các loại dưa dây có chứa độc chất là alkaloid solanine. Khi bị ngộ độc với triệu chứng buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu, tức ngực, nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Các loại rau mầm họ đậu giàu dưỡng chất, vitamin thúc đẩy quá trình phát triển và chống lão hóa nhưng một số đậu như đậu ván, đậu mèo, đậu kiếm, đậu trứng chim cũng có hàm lượng lớn glucozid sinh axit cyanhydric giống như trong măng và sắn nên ta không nên ăn rau mầm của những loại này.
Những cây măng mọc ở môi trường không có ánh sáng cũng có thể gây ngộ độc vì trong môi trường này độc tố của măng sẽ cao hơn nhiều.

Rau mầm nên ăn và không nên ăn
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, trong mầm khoai tây và mầm của các loại dưa dây có chứa độc chất là alkaloid solanine. Khi bị ngộ độc với triệu chứng buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu, tức ngực, nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Tuy rau mầm họ đậu được mệnh danh là giàu dưỡng chất, vitamin thúc đẩy quá trình phát triển và chống lão hóa nhưng một số đậu như đậu ván, đậu mèo, đậu kiếm, đậu trứng chim cũng có hàm lượng lớn glucozid sinh axit cyanhydric giống như trong măng và sắn nên ta không nên ăn rau mầm của những loại này.
Chỉ nên sử dụng các loại rau mầm đã được nghiên cứu chứng minh là ăn được như rau mầm củ cải trắng, mầm lạc, đậu tương, súp lơ, rau muống...
Hơn nữa, không nên ăn những cây măng mọc ở môi trường không có ánh sáng vì môi trường này độc tố của măng sẽ cao hơn nhiều. Khi chúng ta sản xuất tự túc rau mầm thì chỉ nên mua những hạt giống biết chắc chắn là ăn được rau mầm, không nên thử nghiệm để tránh trường hợp đáng tiếc xảy ra.

Cách chọn và chế biến
Do thời gian nuôi trồng rất ngắn 5 - 7 ngày nên các hoạt chất bảo quản hạt chưa đủ thời gian tiêu hủy hoặc chính từ đặc tính sinh học của hạt giống.
Một số cơ sở sản xuất rau mầm thường dùng chất kích thích tăng trưởng để ngâm cho hạt nảy mầm nhanh, cho cây mập hoặc hòa chất này vào nước tưới mỗi ngày. Trong trường hợp này rau không có đủ thời gian để giải phóng được các hoá chất tồn dư nên độc hại.
Khi chọn mua rau mầm nên chọn sản phẩm có nguồn gốc, uy tín, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Không mua những hộp rau có màu sắc lạ hay lá đã ngả vàng, thân, lá rau to xanh bất thường và quá bóng mượt hoặc gốc mọc ra rễ mới (điều này chứng tỏ rau có độc tố bảo quản). Rau mua về nên sử dụng ngay nếu cần bảo quản phải để trong hộp nhựa hoặc nilon khô ráo, thoáng khí ở nhiệt độ 4 - 5oC, tối đa 3 - 4 ngày.
Trước khi sử dụng nên rửa thật kỹ nhiều lần dưới vòi nước đang chảy để loại bỏ các nguy cơ, sau đó ngâm thêm trong nước muối loãng 10 - 15 phút để loại bỏ hóa chất. Rau mầm tốt nhất là được nấu chín, hạn chế ăn sống, nhất là đối với người già, trẻ em và người miễn dịch yếu càng không nên ăn sống loại rau này.

Cẩn trọng khi chữa viêm xoang bằng lá cà độc dược

Hiện nay bài thuốc chữa viêm xoang bằng lá cà độc dược đang được khá nhiều người bệnh truyền tai nhau vì sự rẻ tiền mà hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, người bệnh cần hết sức cận trọng để tránh những điều không mong muốn.

Cà độc dược còn có tên gọi là mạn đà la được chia ra làm hai loại: Một loại có cuống lá và thân cây màu tím, hoa cũng đốm tím và một loại có hoa trắng. Cả 2 đều thân thảo, trái hình cầu, bên ngoài có gai mềm, mọc nhiều ở đồng bằng và các tỉnh miền núi.

Cà độc dược có vị cay, tính nóng, chứa độc. Các tài liệu đã ghi chép rằng thảo dược này có công dụng định suyễn, giảm đau, nhất là đau khớp, dạ dày. Ngoài ra, cà độc dược còn được ghi nhận là có khả năng chữa độc rắn, diệt khuẩn.

Cách chữa viêm xoang bằng lá cà độc dược
Hiện cách chữa viêm xoang đang được mọi người truyền tai nhau như sau:
Bước 1: Các bạn mua về lá cà độc dược khô.
Bước 2: Lấy 1 lon sữa bột rỗng đem đục 1 lỗ ngay nắp to khoảng bằng ngón tay cái.
Bước 3: Lấy 1 ít lá cà độc dược cắt nhỏ rồi bỏ vào lon sữa, đậy kín nắp.
Bước 4: Bắc hộp sữa lên bếp, để lửa nhỏ. Chờ cho đến khi khói bay ra.
Bước 5: Lấy một mảnh giấy lớn đem cuộn hình phễu để hứng khói vào mũi. Hít bằng mũi và thở ra miệng trong khoảng từ 3 đến 6 phút tùy sức mỗi người. Khói sẽ bay vào những hốc xoang và làm nhiệm vụ diệt khuẩn.
Mỗi ngày thực hiện 2 lần, mỗi lần từ 3 đến 6 phút là đủ. Có gắng thực hiện đều đặn và thường xuyên trong một tháng là bạn đã có thể trị dứt điểm bệnh viêm xoang.

Cẩn trọng khi sử dụng cà độc dược
Tuy nhiên, theo GS-TS Đỗ Tất Lợi, trong cây cà độc dược có 2 hoạt chất đó là hyoxin và atropin, có trong lá, hoa và thân cây. Atropin tác động lên não làm say, có khi làm nạn nhân phát điên, hô hấp tăng, sốt, nổi cuồng, có lúc tê liệt tứ chi do thần kinh trung ương bị ức chế. Còn hyoxin tác dụng gần như atropin nhưng làm giãn đồng tử trong thời gian ngắn hơn. Hyoxin ức chế thần kinh nhiều hơn là kích thích.
Vì vậy hyoxin được dùng ở trong lĩnh vực điều trị thần kinh nhằm chữa co giật trong bệnh parkinson, hoặc phối hợp với atropin để chống say xe, làm dịu thần kinh. Do đó, khi sử dụng cà độc dược phải hết sức cẩn trọng, đặc biệt không dùng được cho những người thể lực yếu, có bệnh về đường tim mạch.